Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011
Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011
Đêm Cao nguyên không ngủ
Đêm Cao nguyên không ngủ, tôi lang thang đi dạo dọc bờ sông ĐăkLa xanh; những làn gió mát rượi từ bờ bên kia thổi tới xua đi cái nóng ban ngày khắc nghiệt của mùa khô Tây Nguyên. Khi đến gần một vạt ngô đồng đầu mùa, chợt nghe tiếng hát của một thiếu nữ nào vọng lại:
Ơ ơ ơ... qua bến đò quan
Dô khoan dô khoan mà lắng nghe sóng nước ơ ơ...
Mênh mang tình người
Bến nước quê tôi ai qua mà chẳng nhớ...
Câu hát trong bài "Qua bến đò quan" đó mà - tôi thì thầm, tâm tưởng cuốn theo cảm xúc của những giai điệu mượt mà của bản tình ca mang đậm âm hưởng quê hương tôi - mảnh đất Nam Hà thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tỉnh cũ, sau này tách ra thành tỉnh Nam Định và Hà Nam).
Nhớ tiếng còi tầm âm vang trong lòng người thợ...
Hòa cùng máy sợi, máy tơ...
Ngày còn học sinh cấp 3, tôi đã rất yêu thích bài hát này. Ngày ấy mỗi khi đêm về, học bài xong nằm trên giường tôi lại hát thầm và mơ màng thả hồn theo những giai điệu mượt mà, êm dịu thiết tha của miền quê sông nước.
Dù chưa một lần "Qua bến đò quan" nhưng sao trong tôi luôn thổn thức nỗi nhớ mông lung thế nhỉ?
...Dệt trọn ước mơ của người chiến sỹ năm xưa...
Nhớ ngày còn trong quân ngũ, lần tôi bị sốt rét nằm bệnh xá Sư đoàn trong sân bay Tân Sơn Nhất; dạo đó cứ khoảng tầm 13 giờ chiều không hiểu sao đài tiếng nói Việt Nam hay phát bài hát này thế. Nằm trên giường bệnh nghe hát tôi càng nhớ nhà da diết; có lúc tôi bật khóc thầm, nhưng miệng vẫn lầm bầm hát theo mới "hâm" chứ! Cũng may, ngày đó chưa có người yêu, nếu không chắc nhớ không chịu nổi...
Đang thả hồn theo tiếng hát của cô thôn nữ bên sông, tôi bỗng giật thót mình suýt ngã nhào xuống nước, bởi bóng người ngồi ngay phía trước sát mé sông. Tá hỏa tâm tinh, tôi chợt nhận ra đó là một người bản xứ đang ngồi câu cá ban đêm. Qua mấy câu chào hỏi xã giao, tôi được anh ta giới thiệu tên là A Chứ; nhà anh ở sát mé sông này, cách chỗ ngồi câu chưa đầy 30 mét.
A Chứ có vợ và 2 con; vợ anh chính là cô gái vừa cất tiếng hát bài "Qua bến đò quan" đó. A Chứ là thương binh; còn Thơm - vợ A Chứ, là thanh niên xung phong. Cô gái Nam Hà và Anh thương binh A Chứ yêu nhau trong thời gian ở Viện điều dưỡng và họ cưới nhau; sau đó về lập nghiệp ngay trên quê hương chồng. Tình yêu của họ thật đẹp, đẹp như truyền thuyết của con sông ĐăkLa chảy ngược này và thơ mộng, dịu dàng thủy chung như bến đò quan quê chị .
Chia tay A Chứ, đêm đã khuya tôi không dám vô nhà gặp chị Thơm, không còn nghe tiếng chị hát nữa. Trong căn nhà nhỏ bình dị đó, chắc giờ này sau khi hát ru con bằng bài hát quê hương, chị và các con đều đã ngủ.
Đất nước đã yên bình 35 năm giải phóng. Mẹ con chị hãy ngủ ngon và trong mơ lại hát tiếp bài "Qua bến đò quan", chị nhé!
...Bến sông kia,
Bè ai xuôi, kia thuyền ai ngược
Nhộn nhịp như cánh thoi đưa
Đưa thuyền đi trẩy hội mùa...
Hỡi ai, đi xa còn nhớ...
thekao2008
Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011
Thứ Năm, 24 tháng 6, 2010
DI TÌM TÁC GIẢ BÀI THƠ "ĐÔI DÉP"
Có những bài thơ, dù được sáng tác cách đây hàng chục, thậm chí hàng trăm năm; trải qua rất nhiều thế hệ vẫn luôn luôn phù hợp, không bị coi là lỗi thời, nhàm chán; được mọi người tìm đọc, lưu giữ trong sổ tay và thuộc lòng… đơn giản là vì bài thơ ấy hay, rất hay, thậm chí còn được gán cho là “bất hủ”. Cũng có những nhà thơ rạng danh chỉ nhờ một bài thơ hay…
Nay bài thơ “Đôi dép” trôi nổi khắp nơi trên mạng. Nơi thì đề tác giả là Nguyễn Trung Kiên; nơi khác lại đề là “Thuận hóa”; nhưng cũng không ít nơi đăng bài thơ này và để khuyết danh. Rồi, cũng có người nhận là của Nữ sĩ Kiên Giang sống Tại Totronto hay của Lương Quang Ban…!
Có thể nói bài thơ: “Đôi dép” đầy cảm xúc, rất logic, nhưng cũng rất gần gũi với đời thường ; và, những ai đã từng được thưởng thức bài thơ này đều nói: đó là một trong những bài thơ tình hay nhất? Vậy ai là tác giả bài thơ “Đôi dép”?…“Đôi Dép” – Nguyễn Trung Kiên.
Bài thơ đầu anh viết tặng em
Nguyễn Trung Kiên là ai? Có một số bài viết thể hiện “Nguyễn Trung Kiên sinh
28.4.1973, học Lớp Văn 1K, Đại học Sư Phạm, TP HCM”.
Có bài viết dẫn rằng: “Trung Kiên cho biết anh viết Đôi dép vào tháng 12-1997 và bài này đã được giải nhì của chương trình "Tiếng thơ sinh viên" 1998 của Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM (giải 1 là bài “Không đề” của Trần Đình Thọ)”.
Cảm hứng sáng tác bài thơ “Đôi dép” bắt nguồn từ cuộc tranh luận rất đời thường với một người bạn; rằng: khi người ta mang dép thì chiếc bên nào sẽ mòn trước?...
Đôi dép được viết khi anh chưa có người yêu. Sau khi cưới, anh đã tặng bài thơ này cho người vợ trẻ của mình, thể hiện tình yêu chung thủy, gắn bó suốt đời, sóng bước bên nhau….
Thế rồi, tôi cũng nhận thấy còn một người nữa đứng tên tác giả bài thơ “Đôi dép”!? Đó là Thuận Hóa!? Thuận Hóa viết bài thơ này tặng Công Tằng Tôn Nữ Ý Nhi! (Hy sinh mùa xuân năm 1968, tròn 21 tuổi. Biệt động thành Huế để lại một đôi dép). Nhưng Công Tằng Tôn Nữ Ý Nhi là ai? Nếu đã hy sinh năm 1968 thì chị phải được phong là Liệt sỹ chứ? Đôi dép chị để lại trước lúc hy sinh ấy, bây giờ còn không? Đó là một kỷ vật gây nên xúc cảm mãnh liệt, để Thuận Hóa thăng hoa?. Rất ít người được biết rõ về thông tin này…
…
Và, bài thơ “Đôi dép” ấy như sau: ĐÔI DÉP Tác giả Thuận Hóa
Vần thơ đầu anh viết tặng cho em
So sánh Bài thơ ĐÔI DÉP của Thuận Hóa (TH); với bài thơ “ĐÔI DÉP” của Trung Kiên (TK)
1. Hai câu mở đầu:
TK: Bài thơ đầu anh viết tặng em
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Vậy, “Bài thơ”? hay “Vần thơ”? khổ thơ thứ 3 TK thì viết “khi nỗi nhớ…”; còn TH lại là “Khi anh nhớ”!. Theo tôi TK có lý hơn.
TK: Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ
Ở khổ thơ này, ngay câu đầu tiên đã có sự thêm, bớt từ “kia”; và, trong khổ thơ thứ 3 thì có sự khác biệt lớn: TK thì :”cùng gánh vác…”; còn TH lại “Đi làm cách mạng…”. Đặc biệt trong khổ thơ thứ tư thì hoàn toàn khác (chỉ giống về âm vần để kết một tứ thơ mà thôi) !?.Vậy, trong cùng một đề tài viết về đôi dép, những ý thơ đó nói lên điều gì? Có logic không? Có sát với hoàn cảnh thực tiễn không? Người đọc hẳn sẽ có sự so sánh, phân tích…và đi đến kết luận riêng của mình. Theo tôi: TK vẫn có lý hơn. Vì ý thơ rất tự nhiên, không bị gò ép vào “một không gian, hoàn cảnh đặc biệt” theo ý thức chủ quan của tác giả. Rõ ràng, ở câu thứ nhất “ Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ” hẳn là tự nhiên, đời thường hơn rất nhiều, so với câu thiếu chữ “kia” chứ!. Câu thứu 3 và 4 cũng vậy, ở TH tôi cứ thấy gượng gạo, bị gò ép thế nào ấy, không được tự nhiên lắm.
3.khổ thơ thứ 3:
TK: Cùng bước mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
Số phận chiế này phụ thuộc chiếc kia
TH: Cùng bước cùng mòn không kẻ thấp người cao
Cùng chung chia sẻ sức người chà đạp
Khi vinh nhục không đi cung người khác
Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia
Ở câu thơ thứ hai trong khổ thơ này ta thấy TK thì viết “Cùng chia sẻ…”; còn TH thì thêm từ ‘chung’ để thành câu “Cùng chung chia sẻ…”. Cùng chia sẻ là rõ ý rồi, cần gì phải thêm chữ ‘chung’nữa!?. Đến câu thứ 3 giữa 2 người vẫn có sự dùng từ ngữ khác nhau, tôi thấy chữ “khi” đặt trong hoàn cảnh này không chuẩn lắm.
4. Ở khổ thơ thứ tư:
TK: Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu
TH: Nếu một ngày một chiếc mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu.
Ở câu thơ đầu tiên, TK viết thật tự nhiên một giả định rất đời thường “Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi”!; khác với TH “Nếu một ngày một chiếc mất đi”!; tiếp đến câu thứ 3 thì khác hẳn về chủ thể: TK thì nói “…người đời sẽ biết”; còn TH thì “…người đi sẽ biết”!. Hiển nhiên là: nếu ta bị mất đi một chiếc dép, nhưng không muốn vứt đi chiếc còn lại; nên mới lấy chiếc khác (của đôi khác, giống như chiếc đã mất) thay vào cho đủ một đôi để đi; thì chắc chắn “người đi” phải biết chứ? Việc gì phải nói rằng: người đi sẽ biết: “hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu”!. Trong trường hợp này, TK dùng từ “người đời” là hợp lý.
5. Khổ thơ thứ năm:
TK: Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
6. Khổ thơ thứ sáu:
TK: Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi.
TH: Đôi dép vô tư khắng khít bước song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn nhưng không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi
Đôi dép “vô tri” chứ ai gọi là đôi dép “vô tư”. Những vật dụng tầm thường, không biết ăn, không biết nới, không biết tư duy, suy nghĩ thì người ta thườg gọi đó là những vật “Vô tri, vô giác”; còn “vô tư” thì ngược lại…
7. Khổ thơ thứ bảy:
TK: Không thể thiếu nhau trên những bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng tôi yêu em ở những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung
TH: Không thiếu nhau trên những bước đường đòi
Dẫu một chiếc ở mỗi bên phải trái
Như tôi yêu em bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau bằng một lối đi chung
Sự khác nhau chỉ là những câu, từ do từng tác giả sử dụng trong cách đặt câu (cho khác đi một tý!?); ai cũng biết ý nghĩa của “không thể thiếu”, với “không thiếu” là (tương đối) như nhau (chỉ khác một chút là sự khẳng định mạnh mẽ hơn ở “không thể thiếu”…). Còn “dẫu mỗi chiếc” và “dẫu một chiếc” thì có gì khác nhau đâu?. Nhưng ở câu kết của khổ thơ này thì bạn đọc ai cũng câu nào có ý nghĩa hơn, sát thực hơn…
8. Khổ thơ thứ tám.
TK: Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Ở khổ thơ này đã hiện rõ sự vô lý của TH, khi viết “ Hai chúng mình thầm lặng bước song song/ Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc…”; Tại sao hai người đang bên nhau, mà khi mất đi một chiếc dép phải dừng lại? trên con đường đi làm cách mạng, nếu người bạn, đồng đội (hoặc người yêu) hy sinh thì người kia phải tiếp tục nén đau thương để tiếp tục chiến đấu, không thể dừng lại. và, càng gượng gạo hơn khi ta đọc câu thứ 3 và 4 của TH: “Chỉ còn một là không còn gì hết/ Như anh và em…thương lắm Ý Nhi ơi!”. Trong văn học, nếu viết về liệt sỹ đã hy sinh (cho dù là người bạn gái, người yêu của mình) thì cũng không thể tiêu cực như thế (chỉ còn một là không còn gì hết)!?. Nếu chỉ viết về một đôi dép đơn thuần (dù có nhân cách hóa lên là tình yêu giữa 2 người) thì viết như TK mới có thể chấp nhận được “Chỉ còn một là không còn gì hết/ Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia”.
Thật tình, tôi thấy bài thơ “ĐÔI DÉP” rất hay, tác giả phải có cảm hứng mãnh liệt mới sáng tác được như thế. Hay ở chỗ, chỉ là một đôi dép rất đời thường (vì ai cũng phải đi dép hàng ngày); thế nhưng có mấy người nhận ra được sự gắn bó kỳ diệu “của chúng”! Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ? Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước.
Theo tôi, bài thơ này chỉ hay từ khổ thở thứ hai trở đi mà thôi; còn khổ đầu không có cũng được.Thực tế những ai yêu thích bài thơ này đa số họ cũng chỉ chép từ khổ thơ thứ hai trở đi.
Như trên tôi đã mạo muội so sánh sự khác nhau về bài thơ này được chép đăng trên mạng, dưới tên hai tác giả Trung Kiên và Thuận Hóa. Hẳn bạn đọc cũng phần nào tự hỏi: Vậy ai mới đích thực là tác giả bài thơ “ĐÔI DÉP”? Câu hỏi này thật không dễ trả lời. Chỉ có những người trong cuộc mới biết…;Thế nhưng, cho đến nay họ đều im lặng một cách tế nhị, chẳng ai lên tiếng cả. Vậy thì, thekao dù có một chút “khiếm nhã” đưa ra vài lời nhận xét trong bài viết này cũng mong được quý vị lượng thứ. Tất cả cũng chỉ vì quá yêu thích bài thơ này mà thôi.
Thekao2008.
